10 tháng 7, 2011

Quy trình kết nạp đảng viên mới

QUI TRÌNH XÉT KẾT NẠP ĐẢNG VIÊN


1. CÁC CĂN CỨ

-         Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31/10/2006 của Ban Chấp hành Trung ương "Quy định thi hành Điều lệ đảng"
-         Hướng dẫn số 03-HD/BTCTW ngày 29/12/2006 của Ban Tổ chức Trung ương "Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng"
-         Hướng dẫn số 08-HD/BTCTW ngày 21/06/2007 Ban Tổ chức Trung ương "Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể về Nghiệp vụ công tác đảng viên và Lập biểu thống kê cơ bản trong hệ thống tổ chức đảng"

2. THỦ TỤC HỒ SƠ (THEO HƯỚNG DẪN 08-HD/BTCTW)

TT
Mẫu biểu
Tên gọi
Ghi chú
1                     
Giấy chứng nhận học lớp nhận thức về đảng
Do trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện hoặc tương đương cấp, có giá trị 5 năm.
2                     
Đơn xin vào đảng
Người xin vào đảng tự viết tay
3                     
Lý lịch của người xin vào đảng
Người xin vào đảng tự viết tay
4                     
Giấy giới thiệu người vào đảng
Người giới thiệu thực hiện
5                     
Nghị quyết giới thiệu Đoàn viên ưu tú vào đảng (kèm theo Nghị quyết đề nghị của Chi đoàn, Mẫu 4A-KNĐ)
BCH Đoàn TN cơ sở thực hiện (nếu người vào Đảng là Đoàn viên)
6                     
Nghị quyết giới thiệu đoàn viên Công đoàn vào đảng (kèm theo Nghị quyết đề nghị của Công đoàn bộ phận-Mẫu 4C-KNĐ)
BCH Công đoàn cơ sở thực hiện (~BCH Công đoàn Trường)
7                     
Tổng hợp ý kiến nhận xét (kèm theo ý kiến nhận xét của cấp ủy địa phương - Mẫu 5B-KNĐ và tổ chức đoàn thể - Mẫu 5C-KNĐ)
Chi ủy thực hiện
8                     
Nghị quyết đề nghị kết nạp đảng viên
Chi bộ trực thuộc Đảng ủy cơ sở thực hiện.
9                     
Nghị quyết đề nghị kết nạp đảng viên
Tổ chức cơ sở đảng thực hiện
10                
Quyết định kết nạp
BTV Đảng ủy thực hiện

Các biểu mẫu khác:

- Mẫu 19-KNĐ - Giấy giới thiệu Đảng viên đi thẩm tra lý lịch
- Mẫu 20-KNĐ - Phiếu thẩm tra lý lịch (trang 1) có kèm theo Phiếu nhận xét (trang 2).

3. QUI TRÌNH THỰC HIỆN (TRÍCH hƯỚNG DẪN 03-HD/BTCTW)

3.1- Bồi dưỡng nhận thức về Đảng.

Người vào Đảng phải được học lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, có Giấy chứng nhận do trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện hoặc tương đương cấp; nơi không có trung tâm bồi dưỡng chính trị thì do cấp uỷ có thẩm quyền kết nạp đảng viên cấp.

3.2- Đơn xin vào Đảng.

Người vào Đảng phải tự viết đơn (không đánh máy), trình bày rõ những nhận thức của mình về mục đích, tưởng của Đảng, về động cơ xin vào Đảng.

3.3- Lý lịch của người vào Đảng.

a) Người vào Đảng tự khai lý lịch đầy đủ, rõ ràng, trung thực theo quy định và phải chịu trách nhiệm về nội dung đã khai; nếu có điều gì không hiểu và không nhớ rõ thì phải báo cáo với chi bộ.
b) Lý lịch phải được cấp uỷ cơ sở thẩm tra, kết luận trước khi ghi nội dung chứng nhận, ký tên, đóng dấu.

3.4- Thẩm tra lý lịch của người vào Đảng.

a) Những người cần thẩm tra về lý lịch gồm:

- Người vào Đảng
- Cha, mẹ đẻ, cha mẹ vợ (chồng) hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng bản thân; vợ hoặc chồng của người vào Đảng (sau đây gọi chung là người thân).

b) Nội dung thẩm tra:

- Đối với người vào Đảng: Làm rõ những vấn đề về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay, về chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống.
- Đối với người thân: Làm rõ những vấn đề về lịch sử chính trị và chính trị hiện nay; việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

c) Phương pháp thẩm tra:

Nếu biết rõ những người thân của người vào Đảng đang là đảng viên, trong lý lịch người vào Đảng đã khai đầy đủ, rõ ràng theo quy định thì không phải thẩm tra xác minh. Nội dung nào chưa rõ thì thẩm tra xác minh nội dung đó; khi các cấp uỷ cơ sở (ở quê quán hoặc nơi cư trú, nơi làm việc) đã xác nhận, nếu có nội dung nào chưa rõ thì đến ban tổ chức cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng để thẩm tra làm rõ.
-  Những nội dung đã biết rõ trong lý lịch của người vào Đảng và những người thân đều sinh sống, làm việc tại quê quán trong cùng một tổ chức cơ sở đảng (xã, phường, thị trấn...) từ đời ông, bà nội đến nay thì chi uỷ báo cáo với chi bộ, chi bộ kết luận, cấp uỷ cơ sở kiểm tra và ghi ý kiến chứng nhận, ký tên, đóng dấu vào lý lịch; không cần có bản thẩm tra riêng.
- Việc thẩm tra lý lịch của người vào Đảng trong lực lượng vũ trang được đối chiếu với lý lịch của người đó khai khi nhập ngũ hoặc khi được tuyển dụng. Nếu có nội dung nào chưa rõ phải tiến hành thẩm tra để làm rõ.
-  Người vào Đảng đang ở ngoài nước thì đối chiếu với lý lịch của người đó do cơ quan có thẩm quyền ở trong nước đang quản lý, hoặc lấy xác nhận của cấp uỷ cơ sở nơi quê quán hoặc nơi cư trú, nơi làm việc của người đó ở trong nước.
-  Người thân của người vào Đảng đang ở ngoài nước, thì cấp uỷ nơi người vào Đảng làm văn bản nêu rõ nội dung đề nghị cấp uỷ hoặc cơ quan đại diện Việt Nam ở ngoài nước (qua Ban Cán sự đảng ngoài nước) để lấy xác nhận; trường hợp có nghi vấn về chính trị thì đến cơ quan an ninh trong nước để thẩm tra.
- Người vào Đảng và người thân của người vào Đảng đang làm việc tại cơ quan đại diện, tổ chức phi chính phủ của nước ngoài và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, thì đại diện cấp uỷ cơ sở đến nơi làm việc và cơ quan an ninh của Nhà nước có trách nhiệm quản lý, theo dõi các tổ chức đó để thẩm tra những vấn đề có liên quan đến chính trị của những người nêu trên.
- Đối với ông bà nội, ngoại, anh chị em ruột, con, nếu có vấn đề nghi vấn về chính trị ở trường hợp nào thì xác minh riêng trường hợp đó.

d) Trách nhiệm của các cấp uỷ và đảng viên:

- Trách nhiệm của chi bộ và cấp uỷ cơ sở nơi có người vào Đảng:
+ Kiểm tra, đóng dấu giáp lai vào các trang trong lý lịch của người vào Đảng (chi uỷ chưa nhận xét và cấp uỷ cơ sở chưa chứng nhận ký tên, đóng dấu vào  lý lịch).
+ Cử đảng viên đi thẩm hoặc gửi phiếu thẩm tra đến cấp uỷ cơ sở hoặc cơ quan có trách nhiệm để thẩm tra.
+ Tổng hợp kết quả thẩm tra, ghi nội dung chứng nhận, ký tên, đóng dấu vào lý lịch của người vào Đảng.
- Trách nhiệm của cấp uỷ cơ sở và cơ quan nơi được yêu cầu xác nhận lý lịch: 
+ Chỉ đạo chi uỷ hoặc bí thư chi bộ (nơi chưa có chi uỷ) và cơ quan trực thuộc có liên quan xác nhập vào lý lịch hoặc phiếu thẩm tra, báo cáo cấp uỷ cơ sở.
+ Cấp uỷ cơ sở thẩm định, ghi nội dung xác nhận, ký tên, đóng dấu vào lý lịch hoặc phiếu thẩm tra gửi cho cấp uỷ cơ sở có yêu cầu; nếu gửi phiếu thẩm tra theo đường công văn thì không để chậm quá 30 ngày (ở trong nước), 90 ngày (ở ngoài nước) kể từ khi nhận được phiếu yêu cầu thẩm tra lý lịch.
+ Tập thể lãnh đạo ban tổ chức cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng nơi được yêu cầu xác nhận lý lịch thống nhất về nội dung trước khi xác nhận vào lý lịch hoặc phiếu thẩm tra. 
- Trách nhiệm của đảng viên được cử đi thẩm tra lý lịch:
Phải có trách nhiệm cao công tâm, am hiểu nghiệp vụ và có hiểu biết về người vào Đảng; kết thúc đợt thẩm tra phải làm văn bản báo cáo trung thực với cấp uỷ những nội dung được giao thẩm tra và chịu trách nhiệm trước Đảng về những nội dung đó.

đ) Kinh phí chi cho việc đi thẩm tra lý lịch của người vào Đảng:

Đảng viên ở các cơ quan hưởng ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp đi thẩm tra lý lịch người vào Đảng thì được thanh toán công tác phí theo quy định hiện hành của Đảng và Nhà nước; ở các đơn vị khác thì được vận dụng theo chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng.

3.5- Đảng viên chính thức giới thiệu người vào Đảng.

a) Đảng viên ''cùng công tác với người vào Đảng'' là đảng viên chính thức, cùng hoạt động (công tác, lao động, học tập...) ít nhất 12 tháng với người được giới thiệu vào Đảng trong cùng một đơn vị thuộc phạm vi lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ cơ sở.
Nếu đảng viên giúp đỡ người vào Đảng chuyển công tác, nghỉ hưu, thay đổi nơi cư trú đến đảng bộ cơ sở khác, bị kỷ luật... thì chi bộ phân công đảng viên chính thức khác theo dõi, giúp đỡ người vào Đảng (không nhất thiết đảng viên đó cùng hoạt động với người vào Đảng ít nhất 12 tháng).
b) Đảng viên chính thức được phân công giúp đỡ người vào Đảng khi làm hồ sơ kết nạp phải viết ''Giấy giới thiệu người vào Đảng'', nêu rõ những điểm chính về lý lịch, phẩm chất chính trị, nhận thức về Đảng, đạo đức lối sống, năng lực công tác, quan hệ quần chúng của người vào Đảng, chịu trách nhiệm trước Đảng về những nội dung đó.

3.6- Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở cơ sở giới thiệu đoàn viên vào Đảng.

Ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cơ sở hoặc chi đoàn cơ sở xem xét ra ''Nghị quyết giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng'', nghị quyết cần nêu rõ những ưu điểm, khuyết điểm của đoàn viên về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, năng lực công tác, quan hệ quần chúng; số thành viên tán thành, số thành viên không tán thành giới thiệu đoàn viên vào Đảng; chịu trách nhiệm về những nội dung đó. Nghị quyết này được gửi kèm theo nghị quyết đề nghị của chi đoàn nơi đoàn viên đang sinh hoạt.
Những tổ chức cơ sở đoàn lớn, hoạt động trên địa bàn rộng, nếu được cấp uỷ cơ sở đồng ý và ban chấp hành đoàn cơ sở uỷ quyền, thì ban thường vụ được ra nghị quyết giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng.

3.7- Ban chấp hành công đoàn cơ sở giới thiệu đoàn viên công đoàn vào Đảng.

- Ở cơ quan, doanh nghiệp nơi không có tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, người vào Đảng là đoàn viên công đoàn trong độ tuổi thanh niên, được ban chấp hành công đoàn cơ sở xem xét, ra ''Nghị quyết giới thiệu đoàn viên công đoàn vào Đảng'' thay cho một đảng viên chính thức.
- Thủ tục giới thiệu người vào Đảng của ban chấp hành công đoàn như thủ tục giới thiệu người vào Đảng của ban chấp hành đoàn thanh niên.
- Nơi có tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, người vào Đảng không còn trong độ tuổi thanh niên thì do 2 đảng viên chính thức giới thiệu.

3.8- Lấy ý kiến nhận xét của đoàn thể nơi làm việc và chi uỷ nơi cư trú đối với người vào Đảng.

a) Nơi làm việc.

Chi uỷ tổ chức lấy ý kiến của đại diện các tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi lãnh đạo của chi bộ mà người vào Đảng là thành viên.

b) Nơi cư trú.

Chi uỷ nơi có người vào Đảng đang làm việc lấy ý kiến trực tiếp hoặc gửi phiếu lấy ý kiến chi uỷ hoặc chi bộ (nơi chưa có chi uỷ) nơi cư trú của người vào Đảng.
c) Chi uỷ nơi có người vào Đảng tổng hợp ý kiến nhận xét của đoàn thể nơi làm việc và chi uỷ nơi cư trú đối với người vào Đảng, kèm theo hai văn bản nêu trên để báo cáo chi bộ.

3.9- Nghị quyết của chi bộ xét kết nạp người vào Đảng.

a) Chi bộ (kể cả chi bộ cơ sở) xem xét: Đơn xin vào Đảng; lý lịch của người vào Đảng; văn bản giới thiệu của đảng viên chính thức; Nghị quyết giới thiệu đoàn viên của ban chấp hành Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cơ sở hoặc nghị quyết giới thiệu đoàn viên công đoàn của ban chấp hành công đoàn cơ sở; bản tổng hợp ý kiến nhận xét của tổ chức đoàn thể nơi làm việc và chi uỷ nơi cư trú.
b) Nếu được hai phần ba số đảng viên chính thức trở lên tán thành kết nạp người vào Đảng thì chi bộ ra nghị quyết  đề nghị cấp uỷ cấp trên xem xét, quyết định.
- Nghị quyết nêu rõ kết luận của chi bộ về lý lịch; ý thức giác ngộ chính trị; ưu khuyết điểm về phẩm chất đạo đức, lối sống; năng lực công tác; quan hệ quần chúng... của người vào Đảng; số đảng viên chính thức tán thành, không tán thành, lý do không tán thành.
Ở những nơi có đảng uỷ bộ phận thì đảng uỷ bộ phận thẩm định nghị quyết của chi bộ về kết nạp đảng viên, báo cáo cấp uỷ cơ sở xét kết nạp người vào Đảng.

3.10- Nghị quyết của cấp uỷ cơ sở xét kết nạp người vào Đảng.

a) Trước khi đưa ra đảng uỷ cơ sở xem xét, ban thường vụ hoặc thường trực (nơi chưa có ban thường vụ) cấp uỷ cơ sở phải tiến hành kiểm tra lại hồ sơ lý lịch của người vào Đảng các văn bản của chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận (nếu có).
b) Tập thể đảng uỷ cơ sở thảo luận, biểu quyết, nếu được hai phần ba số cấp uỷ viên trở lên tán thành thì ra nghị quyết đề nghị cấp uỷ cấp trên xét kết nạp.
Nếu đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì do đảng uỷ cơ sở đó ra quyết định kết nạp.
c) Đối với tổ chức cơ sở đảng trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương không được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên, thì cấp uỷ cơ sở gửi văn bản đề nghị lên ban tổ chức tỉnh ủy, thành ủy, đảng uỷ trực thuộc Trung ương để thẩm định, báo cáo thường trực cấp uỷ; thường trực cấp uỷ chủ trì cùng với các đồng chí uỷ viên thường vụ là trưởng các ban đảng xem xét và được uỷ quyền thay mặt ban thường vụ ra quyết định kết nạp đảng viên.
Đối với các đảng uỷ, chi bộ cơ sở trực thuộc Đảng uỷ Công an Trung ương không được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên, thì gửi văn bản đề nghị để Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân thẩm định, báo cáo Ban Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương xét, quyết định kết nạp đảng viên.

3.11- Quyết định của cấp uỷ có thẩm quyền kết nạp đảng viên.

a) Sau khi nhận được nghị quyết đề nghị kết nạp đảng viên của cấp uỷ cơ sở ban tổ chức của cấp uỷ có thẩm quyền tiến hành thẩm định lại, trích lục tài liệu gửi các đồng chí uỷ viên thường vụ cấp uỷ nghiên cứu.
b) Ban thường vụ cấp uỷ họp xét, nếu được trên một nửa số thành viên ban thường vụ đồng ý thì ra quyết định kết nạp đảng viên. Đối với đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên, thì phải được ít nhất hai phần ba cấp uỷ viên đương nhiệm đồng ý mới được ra quyết định kết nạp đảng viên.
c) Thời gian xét làm thủ tục kết nạp người vào Đảng:
Khi chi bộ có nghị quyết đề nghị kết nạp, cấp uỷ có thẩm quyền phải xem xét quyết định và thông báo kết quả cho chi bộ, không được để chậm quá 60 ngày; nếu quá thời hạn trên mà không có lý do chính đáng thì cấp uỷ để chậm phải kiểm điểm trách nhiệm trước cấp uỷ cấp trên.
d) Trường hợp người vào Đảng có vấn đề liên quan đến lịch sử chính trị hoặc chính trị hiện nay, không thuộc thẩm quyền quyết định của cấp uỷ (theo quy định của Bộ Chính trị) thì báo cáo ban thường vụ tỉnh uỷ, thành uỷ hoặc đảng uỷ trực thuộc Trung ương xem xét, nếu được sự đồng ý bằng văn bản thì cấp uỷ có thẩm quyền mới ra quyết định kết nạp.

3.12- Tổ chức lễ kết nạp đảng viên.

a) Khi có quyết định kết nạp đảng viên của cấp uỷ có thẩm quyền, chi bộ tổ chức lễ kết nạp đảng viên kịp thời, không để chậm quá 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định.
b) Lễ kết nạp đảng viên phải được tổ chức trang nghiêm; tiến hành kết nạp từng người một (nếu kết nạp từ hai người trở lên trong cùng một buổi lễ).
c) Trang trí lễ kết nạp: thực hiện theo điểm 13 (13.l.c) của Hướng dẫn này với tiêu đề: "Lễ kết nạp đảng viên".

d) Chương trình buổi lễ kết nạp:

- Chào cờ (hát Quốc ca, Quốc tế ca);
- Tuyên bố lý do; giới thiệu đại biểu;
- Người vào Đảng đọc đơn xin vào Đảng;
- Đại diện đảng viên được phân công giúp đỡ đọc bản giới thiệu người vào Đảng;
- Đại diện ban chấp hành đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cơ sở hoặc ban chấp hành công đoàn cơ sở đọc bản giới thiệu đoàn viên ưu tú vào Đảng (nếu có);
- Bí thư chi bộ hoặc đại diện chi uỷ đọc quyết định kết nạp đảng viên của cấp uỷ có thẩm quyền (những người dự lễ kết nạp đứng nghiêm);
- Đảng viên mới đọc lời tuyên thệ
- Đại diện chi uỷ nói rõ nhiệm vụ, quyền hạn của người đảng viên, nhiệm vụ của chi bộ và phân công đảng viên chính thức giúp đỡ đảng viên dự bị;
- Đại diện đảng uỷ cấp trên phát biểu ý kiến (nếu có);
- Bế mạc (hát Quốc ca, Quốc tế ca).

3.13- Việc xem xét kết nạp đảng viên đối với người vào Đảng khi thay đổi đơn vị công tác hoặc nơi cư trú.

a) Người đang trong thời kỳ được tổ chức đảng xem xét kết nạp mà chuyển sang đơn vị công tác hoặc nơi cư trú mới, thì cấp uỷ cơ sở nơi chuyển đi làm giấy chứng nhận người đó là cảm tình Đảng, đang được tổ chức đảng giúp đỡ, xem xét kết nạp; cấp uỷ cơ sở nơi đến giao cho chi bộ tiếp tục phân công đảng viên chính thức (không lệ thuộc vào thời gian đảng viên chính thức cùng công tác với người vào Đảng) theo dõi, giúp đỡ.
b) Người vào Đảng đã được chi bộ, đảng uỷ cơ sở xét, ra nghị quyết đề nghị cấp uỷ có thẩm quyền xét, kết nạp đảng viên nhưng chưa gửi hồ sơ kết nạp lên cấp uỷ có thẩm quyền, thì cấp uỷ cơ sở nơi chuyển đi làm công văn gửi kèm hồ sơ đề nghị kết nạp đảng viên đến cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng nơi chuyển đến. Cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cơ sở nơi chuyển đến chỉ đạo cấp uỷ đảng trực thuộc phân công đảng viên chính thì theo dõi, giúp đỡ và xem xét để kết nạp.
c) Người vào Đảng đã được cấp uỷ cơ sở gửi nghị quyết và hồ sơ kết nạp đảng viên lên cấp có thẩm quyền, nhưng chưa có quyết định kết nạp hoặc đã có quyết định kết nạp nhưng ngày ra quyết định kết nạp sau 30 ngày kể từ ngày ghi trong quyết định của cấp có thẩm quyền cho người vào Đảng chuyển đơn vị công tác, học tập hoặc chuyển đến nơi cư trú mới, thì cấp uỷ có thẩm quyền làm công văn gửi kèm theo hồ sơ đề nghị kết nạp đến cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng nơi chuyển đến để xem xét, quyết định kết nạp.
Trường hợp cấp uỷ có thẩm quyền ra quyết định kết nạp người vào Đảng trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người được vào Đảng có quyết định được chuyển đến đơn vị công tác, học tập hoặc nơi cư trú mới, thì gửi công văn kèm theo quyết định và hồ sơ kết nạp đến cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng nơi người vào Đảng chuyển đến để chỉ đạo chi bộ tổ chức lễ kết nạp đảng viên. Không tổ chức lễ kết nạp nơi đã chuyển đi.
d) Người vào Đảng chuyển đến đơn vị công tác, học tập hoặc nơi cư trú mới thuộc phạm vi lãnh đạo của cấp uỷ có thẩm quyền (trong một đảng bộ huyện và tương đương), thì cấp uỷ có thẩm quyền xem xét và thông báo đến cấp uỷ cơ sở nơi chuyển đi, đồng thời chuyển quyết định kết nạp đến cấp uỷ cơ sở nơi người vào Đảng đến để tổ chức lễ kết nạp.
Với các trường hợp nêu trên, cấp uỷ cơ sở nơi chuyển đến cần kiểm tra kỹ hồ sơ, thủ tục kết nạp trước khi tổ chức lễ kết nạp; nếu chưa bảo đảm nguyên tắc, thủ tục hoặc chưa đủ tiêu chuẩn đảng viên thì đề nghị cấp uỷ có thẩm quyền nơi ra quyết định kết nạp xem xét lại. Thời gian xem xét lại không để quá 60 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị của cấp uỷ nơi người vào Đảng chuyển đến.

3.14- Việc phân công đảng viên theo dõi, giúp đảng viên dự bị chuyển công tác đến đơn vị mới hoặc đến nơi cư trú mới.

a) Đảng viên dự bị chuyển sinh hoạt đảng (chính thức hoặc tạm thời) đến đơn vị công tác hoặc nơi cư trú mới, thì chi uỷ, đảng uỷ cơ sở nơi đảng viên chuyển đi nhận xét vào bản tự kiểm điểm của đảng viên dự bị, để đảng viên báo cáo cấp uỷ, chi bộ nơi chuyển đến theo dõi, giúp đỡ.
b) Chi bộ nơi đảng viên dự bị chuyển đến tiếp tục phân công đảng viên chính thức theo dõi, giúp đỡ; khi hết thời gian dự bị, đảng viên dự bị viết bản tự kiểm điểm và đảng viên chính thức được phân công giúp đỡ viết bản “Nhận xét đảng viên dự bị'' báo cáo chi bộ.
Một số vấn đề cần lưu ý:
- Theo qui định của Đảng ủy Trường ĐHCT thì người xin vào đảng phải có trình độ văn hóa là 12/12 hoặc tương đương.
- Theo qui định "Nơi có tổ chức Ðoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, người vào Ðảng trong độ tuổi thanh niên phải là đoàn viên, được ban chấp hành đoàn cơ sở và một đảng viên chính thức giới thiệu". Để Ban chấp hành đoàn cơ sở có căn cứ giới thiệu thì Chi đoàn phải ra Nghị quyết đề nghị giới thiệu (Mẫu 4A-KNĐ).
- Về việc lấy ý kiến nhận xét của đoàn thể nơi làm việc: Theo qui định "Chi uỷ tổ chức lấy ý kiến của đại diện các tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi lãnh đạo của chi bộ mà người vào Đảng là thành viên":
+ Nếu người xin vào đảng vừa là Đoàn viên thanh niên vừa là Công đoàn viên thì phải lấy ý kiến của đại diện cả hai tổ chức trên (hai tổ chức trên phải nằm trong phạm vi lãnh đạo của chi bộ).
+ Nếu người xin vào đảng là Công đoàn viên và đã hết tuổi Đoàn thì chỉ xin ý kiến của đại diện Công đoàn.
- Thứ tự sắp xếp hồ sơ: Đề nghị sắp theo đúng thứ tự như mục 2.

4. SAU KHI KẾT NẠP

- Chi ủy ghi ngày kết nạp vào Quyết định kết nạp, ký tên và gởi cho Văn phòng Đảng ủy Trường để lưu vào hồ sơ của đảng viên.
- Đảng viên viết Lý lịch đảng viên (Mẫu 1-HSĐV, nhận tại VP Đảng ủy) và Phiếu đảng viên (Mẫu 2-HSĐV, nhận tại VP Đảng ủy) và gởi cho Văn phòng Đảng ủy để lưu vào hồ sơ đảng viên.
- Chi ủy cử đảng viên mới học lớp bồi dưỡng Lý luận chính trị dành cho đảng viên mới kết nạp (khi có thông báo mở lớp của Văn phòng Đảng ủy, thông thường vào Quý 4 mỗi năm).
Trong quá trình thực hiện, nếu có vấn đề phát sinh xin liên hệ Văn phòng Đảng ủy Trường (ĐT: 0710 3 830188) hoặc Email lmquoc@ctu.edu.vn

 ngày 11 tháng 7 năm 2010
Văn phòng Đảng ủy

ĐIỀU LỆ ĐẢNG KHOÁ XI - NHỮNG ĐIỂM MỚI

ĐIỀU LỆ ĐẢNG KHOÁ XI - NHỮNG ĐIỂM MỚI

Điều lệ Đảng là bộ luật cơ bản của Đảng, quy định tôn chỉ, mục đích và các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Đảng, nhằm bảo đảm cho Đảng ta thống nhất ý chí, tổ chức và hành động. Mỗi kỳ đại hội toàn quốc của Đảng, Điều lệ Đảng đều được bổ sung, sửa đổi những điểm cần thiết phù hợp với yêu cầu thực tiễn của tình hình, nhiệm vụ mới.
Qua tổng kết thực tiễn, đánh giá sâu sắc những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc trong thi hành Điều lệ Đảng do Đại hội X của Đảng thông qua; đồng thời để phù hợp với những quan điểm, nội dung quan trọng của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và với những vấn đề mới về đường lối, chủ trương xây dựng Đảng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã quyết định nghiên cứu để trình Đại hội XI xem xét bổ sung, sửa đổi một số điểm trong Điều lệ Đảng. Việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng lần này tuân theo 3 quan điểm chỉ đạo:
1) Kiên định các nguyên tắc cơ bản về Đảng và xây dựng Đảng trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển, thể chế hóa những quan điểm mới có tính nguyên tắc về xây dựng Đảng, nhất là những quan điểm mới thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).
2) Nghiên cứu bổ sung vào Điều lệ Đảng một số nội dung trong các nghị quyết của Trung ương về xây dựng Đảng; các văn bản quy định thi hành Điều lệ Đảng; một số vấn đề tiến hành thí điểm đã được tổng kết mà thực tiễn xây dựng Đảng thời gian qua khẳng định là đúng đắn, cần thiết, chín muồi, thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội Đảng toàn quốc.
3) Phát huy dân chủ, trí tuệ trong thảo luận, tập hợp đầy đủ, trung thực ý kiến tham gia của đảng viên, cán bộ, của các cấp ủy, tổ chức đảng, các thành viên trong hệ thống chính trị, các vấn đề đã được tổng kết, đúc rút từ lý luận và thực tiễn công tác xây dựng Đảng, có sự thống nhất cao trong toàn Đảng để bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng.
Trên cơ sở Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về một số vấn đề bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thảo luận và thông qua dự thảo Điều lệ Đảng (bổ sung, sửa đổi). Để triển khai thực hiện tốt Điều lệ Đảng, các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cần nắm được cơ sở lý luận, thực tiễn và nội dung của những điểm sửa đổi đó.
1. Về tiêu chuẩn đảng viên. Đại hội quyết định bổ sung cụm từ “nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam” vào khoản 1, Điều 1 để diễn đạt đầy đủ là: "Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam;..." cho thống nhất với phần mở đầu của Điều lệ Đảng (phần này ghi: "Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”). Quyết định bổ sung này được 74,56% đại biểu tán thành.
Trong quá trình xây dựng và lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã nhiều lần thay đổi tên Đảng và điều chỉnh cách diễn đạt về Đảng, nhưng Đảng luôn luôn mang bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng thể hiện ở chỗ: mục đích của Đảng là xây dựng CNXH và CNCS; nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ; Đảng liên hệ mật thiết với quần chúng công nông; lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển...
Tuy nhiên, Đảng ta ra đời ở một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, cho nên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam. Hơn nữa, trong giai đoạn cách mạng hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước đang đòi hỏi phải huy động được sự tham gia của tất cả các tầng lớp nhân dân lao động, của cả dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, không chỉ giai cấp công nhân mà tất cả các giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động đang ra sức phấn đấu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng để xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Trong sự nghiệp này, Đảng không chỉ là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mà thật sự còn là đội tiên phong dẫn đường cho cả nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam. Đảng cũng không chỉ thu nhận vào hàng ngũ của mình những công nhân ưu tú, mà còn thu hút vào Đảng tất cả những người ưu tú trong các giai cấp, tầng lớn nhân dân lao động trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Vậy nên sự thay đổi cách diễn đạt về tiêu chuẩn đảng viên này là cần thiết để hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn đảng viên, phù hợp với yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và yêu cầu xây dựng Đảng trong tình hình mới. Với sự sửa đổi, bổ sung này sẽ giúp Đảng hiệu triệu được đông đảo hơn nữa các tầng lớp nhân dân lao động tham gia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng Đảng, tăng cường mối liên hệ gắn bó máu thịt với nhân dân; đồng thời cũng nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và toàn Đảng trước nhân dân, dân tộc.
2. Về quy định những điều đảng viên không được làm. 81,18% đại biểu đồng ý bổ sung vào khoản 2, Điều 2 nội dung: đảng viên phải: "Chấp hành Quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm". Tuy đã có Điều lệ Đảng quy định quyền và trách nhiệm của đảng viên và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động mà đảng viên phải thực hiện, nhưng đây là những quy định mang tính khái quát, không thể phản ánh những yêu cầu cụ thể của thực tiễn đối với đảng viên trong từng thời kỳ. Chính vì vậy, căn cứ vào tình hình cụ thể, Trung ương Đảng cần thiết phải có những quy định cụ thể về những điều đảng viên không được làm để định hướng hoạt động cho đảng viên, đồng thời tăng cường quản lý, giúp đảng viên phòng tránh những việc làm không đúng. Đến nay, Trung ương Đảng đã hai lần ban hành quy định về những điều đảng viên không được làm: Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 3/1/2002 của Bộ Chính trị (khoá IX); Quy định số 115-QĐ/TW ngày 7/12/2007 của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm với 19 điều cấm. Tuy còn những điểm cần tiếp tục nghiên cứu, sửa chữa, hoàn thiện, nhưng các quy định đó đã góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng trong thời gian vừa qua. Với việc bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về những điều đảng viên không được làm vào Điều lệ lần này sẽ tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ cho các quy định đó được tiếp tục thi hành nghiêm túc, đồng thời không làm cho Điều lệ phải ghi những điều quy định quá cụ thể.
3. Về tính tuổi đảng của đảng viên. 82,78% đại biểu đồng ý bổ sung, sửa đổi Khoản 4, Điều 5 như sau: "Đảng viên đó được công nhận chính thức thì tuổi đảng của đảng viên tính từ ngày ghi trong quyết định kết nạp". Điều lệ Đảng trước đây quy định tuổi đảng của đảng viên tính từ ngày ghi trong quyết định công nhận đảng viên chính thức. Cách tính tuổi đảng này không phù hợp với ý nghĩa thiêng liêng của quyết định và lễ kết nạp đảng viên và không ghi nhận được cống hiến của đảng viên trong thời gian dự bị. Hơn nữa, trong điều kiện thực tế, nhiều đảng viên không giữ được quyết định công nhận đảng viên chính thức mà chỉ ghi nhớ ngày được quyết định kết nạp vào Đảng, do đó không ít trường hợp đã gặp khó khăn khi xác định tuổi Đảng của đảng viên. Với quy định mới: "Đảng viên đó được công nhận chính thức thì tuổi đảng của đảng viên tính từ ngày ghi trong quyết định kết nạp" sẽ nâng cao ý nghĩa quan trọng của ngày đảng viên được quyết định kết nạp vào Đảng, ghi nhận cống hiến của đảng viên trong thời gian dự bị, đồng thời góp phần làm đơn giản hóa một thủ tục hành chính, thuận tiện cho đảng viên cũng như tổ chức đảng xác định tuổi đảng của đảng viên.
4. Về lập tổ chức cơ sở đảng. 74,27% đại biểu đồng ý bổ sung, sửa đổi khoản 2, Điều 21 như sau: "Ở xã, phường, thị trấn có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng (trực thuộc cấp ủy cấp huyện). Ở cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức đảng (tổ chức cơ sở đảng hoặc chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở); cấp ủy cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chức đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp".
Điều lệ Đảng do Đại hội X thông qua quy định: "Ở xã, phường, thị trấn, cơ quan, hợp tác xã, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, đơn vị cơ sở trong quân đội, công an và các đơn vị cơ sở khác có từ ba đảng viên chính thức trở lên, lập tổ chức cơ sở đảng;...". Quy định này không còn phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, do công cuộc đổi mới đang thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, dẫn đến việc thành lập ngày càng nhiều tổ chức đảng trong các loại hình đơn vị cơ sở mới, nhất là ở các doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, làm cho cấp ủy cấp trên cơ sở phải trực tiếp quản lý quá nhiều tổ chức đảng có quy mô nhỏ. Với điều sửa đổi về lập tổ chức cơ sở đảng sẽ làm cho việc lập tổ chức đảng linh hoạt hơn, đáp ứng kịp thời yêu cầu mở rộng sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời vẫn bảo đảm sự chặt chẽ trong hệ thống tổ chức của Đảng.
5. Về nhiệm kỳ đại hội ở những nơi mới thành lập, chia tách, hợp nhất, sáp nhập trong nhiệm kỳ. Điều lệ mới bổ sung, sửa đổi Khoản 5, Điều 13 như sau: "Từ tổ chức cơ sở đảng đến đảng bộ trực thuộc Trung ương nếu được thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập trong nhiệm kỳ, thì cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định cấp ủy chính thức; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp; nhiệm kỳ đầu tiên của các cấp ủy này không nhất thiết phải là 5 năm để nhiệm kỳ đại hội phù hợp với nhiệm kỳ đại hội của tổ chức đảng cấp trên".
Điều lệ Đảng do Đại hội X thông qua quy định đối với những trường hợp này thì "cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định cấp ủy lâm thời; chậm nhất trong vòng một năm kể từ ngày có quyết định chỉ định, tổ chức đảng đó phải tiến hành đại hội; nếu kéo dài thêm thời gian phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý". Thực tế cho thấy quy định như vậy làm cho hiệu lực lãnh đạo của cấp ủy lâm thời không cao, đồng thời phải chỉ đạo xử lý nhiều tình huống phát sinh về thời gian của nhiệm kỳ đầu tiên. Qua kiện toàn tổ chức đảng trong quá trình thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa X) vừa qua cho thấy, các tổ chức đảng từ tổ chức cơ sở đảng đến đảng bộ trực thuộc Trung ương nếu được thành lập mới, chia tách, hợp nhất, sáp nhập trong nhiệm kỳ, thì cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định cấp ủy chính thức; chỉ đạo xây dựng hoặc bổ sung nhiệm vụ cho phù hợp là cách làm hiệu quả, hợp với tâm tư của cán bộ, đảng viên. Mặt khác, với việc quy định rõ “nhiệm kỳ đầu tiên của các cấp ủy này không nhất thiết phải là 5 năm để nhiệm kỳ đại hội phù hợp với nhiệm kỳ đại hội của tổ chức đảng cấp trên” sẽ tạo cơ chế tự động cho việc xử lý các vấn đề liên quan đến thời gian của nhiệm kỳ đầu tiên cho phù hợp với nhiệm kỳ đại hội của tổ chức đảng cấp trên, khắc phục tình trạng vận dụng tùy tiện.
6. Về thí điểm một số chủ trương mới. Đại đa số (90,12%) đại biểu Đại hội XI đồng ý bổ sung Điều 16 quy định: "Ban Chấp hành Trung ương căn cứ tình hình thực tế quyết định chỉ đạo thí điểm một số chủ trương mới". Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn là quy luật tồn tại, phát triển của đảng cộng sản, nhất là trong điều kiện là Đảng cầm quyền duy nhất. Hơn nữa, nhận thức cũng như thực tiễn là quá trình vận động, phát triển không ngừng, do đó những quy định trong Điều lệ Đảng không thể phản ánh kịp thời những yêu cầu phát triển trong suốt một nhiệm kỳ 5 năm. Thực tế vừa qua cho thấy, có thể ngay sau Đại hội đã xuất hiện những vấn đề mới đòi hỏi Đảng phải có những chủ trương mới. Tuy nhiên, để có đủ cơ sở khoa học đề ra những chủ trương mới đó rất cần phải làm thí điểm. Chính vì vậy, việc bổ sung vào Điều lệ quy định: "Ban Chấp hành Trung ương căn cứ tình hình thực tế quyết định chỉ đạo thí điểm một số chủ trương mới" là cần thiết để tạo hành lang pháp lý cho việc đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, đáp ứng kịp thời yêu cầu của tình hình mới.
7. Về chức năng, nhiệm vụ của ban cán sự đảng, đảng đoàn. Trong các Điều 42, 43, Điều lệ mới không quy định ban cán sự đảng, đảng đoàn trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng mà chỉ lãnh đạo công tác kiểm tra.
Ban cán sự đảng, đảng đoàn là những tổ chức đảng có tính chất đặc biệt của Đảng, do cấp ủy cùng cấp thành lập, nhằm thực hiện hoặc tăng cường sự lãnh đạo đối với những cơ quan, tổ chức có vị trí quan trọng, có tính đặc thù. Đảng đoàn chủ yếu được thành lập trong các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, do bầu cử lập ra, như: Đảng đoàn Quốc hội, Mặt trận... Ban cán sự đảng thành lập trong các cơ quan hành pháp và tư pháp cấp trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, như: Ban cán sự đảng Chính phủ, các bộ, Tòa án, Viện kiểm sát, ủy ban nhân dân tỉnh. Ban cán sự đảng, đảng đoàn chỉ bao gồm một số đảng viên là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của cơ quan, đơn vị mà không có bộ máy giúp việc chuyên trách như cấp ủy, do đó, trong thực tế, các ban cán sự, đảng đoàn không trực tiếp thực hiện được nhiệm vụ kiểm tra. Chính vì vậy, việc quy định ban cán sự đảng, đảng đoàn trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng là không phù hợp. Với sửa đổi không quy định ban cán sự đảng, đảng đoàn trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng mà chỉ lãnh đạo công tác kiểm tra là phù hợp với thực tế, góp phần bảo đảm tính chặt chẽ của Điều lệ.
8. Về thẩm quyền kỷ luật đảng viên. Đại hội X đã giao cho chi bộ quyền thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với tất cả đảng viên, kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên là cán bộ diện cấp ủy cấp trên quản lý khi vi phạm về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt Đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao), trong khi đó, cấp uỷ cấp huyện và tương đương trở lên lại chưa được giao thẩm quyền này. Để khắc phục sự bất hợp lý đó, với 63,44% đại biểu đồng ý, Đại hội XI quyết định sửa đổi khoản 2, 3, Điều 36 để bổ sung thẩm quyền kỷ luật đảng viên cho cấp uỷ từ cấp huyện và tương đương trở lên.
Điều lệ mới giao cho cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương thẩm quyền quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp vi phạm nhiệm vụ do cấp ủy giao; giao cho ban thường vụ cấp ủy thẩm quyền quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cán bộ diện cấp ủy cấp trên quản lý vi phạm nhiệm vụ chuyên môn được giao; giao cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
9. Về Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hai lực lượng vũ trang trọng yếu, bởi vậy, Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân và Công an nhân dân tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Tuy nhiên, trong các bản Điều lệ trước đây chưa quy định rõ một số vấn đề cơ bản trong nguyên tắc này, như: trách nhiệm lãnh đạo Quân đội nhân dân và Công an nhân dân của Trung ương Đảng, trách nhiệm của Nhà nước, thể chế hóa vị trí, vai trò của người đứng đầu tổ chức đảng trong cơ cấu lãnh đạo Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Trước yêu cầu đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, những thiếu sót đó cần được khắc phục. Với 80,16% đại biểu đồng ý, Đại hội XI bổ sung hai nội dung vào khoản 1, Điều 25: 1) sự lãnh đạo của Đảng được tập trung thống nhất vào Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Đảng quyết định những vấn đề cơ bản xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; 2) Nhà nước thống nhất quản lý đối với Quân đội, Công an và sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Đại hội cũng quyết định sửa đổi Điều 26, 27, bổ sung quy định thống nhất cách gọi tên cơ quan lãnh đạo của Đảng trong Quân đội ở Trung ương là “Quân ủy Trung ương” thay cho cách dùng tên gọi trước đây: “Đảng uỷ Quân sự Trung ương”; quy định rõ đồng chí Tổng Bí thư là Bí thư Quân ủy Trung ương, đồng chí bí thư cấp ủy địa phương trực tiếp làm bí thư đảng ủy quân sự cùng cấp./.
(Theo Tạp chí Lý luận Chính trị

Bói tình duyên

Đọc truyện cười

Code: