19 tháng 9, 2011

Đề án xoá đói, giảm nghèo giai đoạn 2011-2015 tại xã Lũng Chinh

CỘNG HOÀ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
 


ĐỀ ÁN
XOÁ ĐÓI, GIẢM NGHÈO GIAI ĐOẠN 2010-2015
XÃ LŨNG CHINH


MỞ ĐẦU

I. Sự cần thiết phải lập Đề án xây dựng xoá đói giảm nghèo.

Đảng ta đã đưa ra những chương trình rộng lớn để tập trung giải quyết là “Chương trình về xóa đói, giảm nghèo”. Trên cơ sở đó, Nhà nước cũng đã có hàng chục chương trình cấp quốc gia và dự án đang được thực thi có nội dung gắn với xóa đói, giảm nghèo.
Thế giới đang đứng trước thời khắc trọng đại của lịch sử là đã tiến vào thập niên đầu của thế kỷ XXI với một nền văn minh rực rỡ nhưng cũng ngổn ngang những vấn đề gay gắt mang tính toàn cầu. Nó chứa đựng trong mình cả niềm vui và sự bất hạnh, cả nụ cười và nước mắt, cả hạnh phúc và lo toan. Một trong những nỗi lo toàn cầu, nỗi đau nhân loại là sự đói nghèo trầm trọng trên một phạm vi vô cùng rộng lớn.
Như thế đủ thấy đói nghèo và giải quyết vấn đề nghèo đói mang tính phổ biến, không chỉ là công việc của riêng nước ta. Tuy nhiên, để hiểu về chương trình xóa đói giảm nghèo ở nước ta một cách đầy đủ, cần thiết phải có cách nhìn tổng quan, cần “biết người biết ta” để rút ra những bài học và tìm ra những phương pháp hữu hiệu.

1. Đói nghèo và việc giải quyết đói nghèo trên thế giới
Cho đến hôm nay, đói nghèo vẫn là nỗi ám ảnh thường trực đối với cả loài người. Thế giới đã chứng kiến những thảm họa của chiến tranh, thảm họa của thiên tai, dịch bệnh với bao nỗi kinh hoàng. Thế nhưng hậu quả do những nạn đói gây ra cũng vô cùng khủng khiếp. Điều đáng sợ hơn nữa là: Nếu như các cuộc chiến tranh dù khốc liệt vô cùng nhưng rồi trước sau cũng được giải quyết, nếu như những thảm họa do thiên tai, dịch bệnh gây ra từng bước cũng sẽ được khắc phục thì vấn đề nghèo đói của nhân loại lại là một vấn đề vừa cấp bách, vừa phức tạp lại như một căn bệnh kinh niên khó bề chạy chữa.
Đói nghèo diễn ra trên tất cả các châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt ở các nước đang phát triển, sự đói nghèo của dân cư đang là một vấn đề nhức nhối rất cấp bách phải tháo gỡ nhưng cũng vô cùng khó khăn trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo.

2. Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về việc xóa đói giảm nghèo
Đảng ta coi cơ sở phương pháp luận quan trọng và cơ bản nhất để phân tích vấn đề đói nghèo và xóa đói giảm nghèo là giải phóng con người khỏi mọi áp bức, bất công, thực hiện công bằng xã hội. Chủ nghĩa xã hội là quá trình kiến tạo hạnh phúc và cũng là quá trình đấu tranh vì sự công bằng, đấu tranh để thủ tiêu nguồn gốc bất công xã hội.
Ngay từ những ngày đầu mới thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Bác Hồ đã chỉ đạo là chống giặc đói. Vấn đề công bằng xã hội - vấn đề có quan hệ trực tiếp và quyết định đối với việc xóa đói giảm nghèo đã được Đảng ta luôn quan tâm chú ý. Những đại hội Đảng gần đây, từ Đại hội VI đến Đại hội X, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, nhiều văn bản đề cập tới vấn đề công bằng xã hội.
Trong các văn kiện quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam, vấn đề xóa đói giảm nghèo được nhiều lần đề cập tới. Để bảo đảm và hướng tới công bằng xã hội, Đảng ta khẳng định “khuyến khích làm giàu hợp pháp, chống làm giàu phi pháp đi đôi với chăm lo xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển, về mức sống giữa các vùng căn cứ cách mạng và kháng chiến cũ, các gia đình thuộc diện chính sách, làm cho mọi người, mọi nhà đều tiến tới cuộc sống ấm no, hạnh phúc, ai cũng có việc làm, có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành và chữa bệnh, từng bước thực hiện điều Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong ước”.

3. Một số luận điểm và chính sách cụ thể
Xóa đói giảm nghèo vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt. Xóa đói giảm nghèo vừa có tính cơ bản và cần thực hiện liên tục, lâu dài, lại là một công việc cần kíp, trước mắt, bởi vì sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới luôn đặt ra nhiệm vụ: mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước cải thiện đời sống của nhân dân; bởi vì đây không chỉ là việc thực hiện truyền thống, đạo lý của dân tộc “thương người như thể thương thân”, mà còn là nhiệm vụ để bảo đảm ổn định xã hội, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Xóa đói giảm nghèo là công việc của toàn xã hội. Cần khẳng định một cách mạnh mẽ rằng, xóa đói giảm nghèo không dừng lại ở việc thực hiện chính sách xã hội, không phải việc riêng của ngành lao động - xã hội hay một số ngành khác, mà là nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, là nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân. Muốn thực hiện thành công việc xóa đói giảm nghèo, tất cả mọi cán bộ đảng, chính quyền đều phải quan tâm cùng giải quyết, thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ và phải có sự tham gia của toàn thể cộng đồng.

II. Căn cứ pháp lý xây dựng đề án:
- Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”;
- Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xoá đói giảm nghèo và Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT, ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí quốc gia về xoá đói giảm nghèo;
- Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2010 – 2020;
- Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các Bộ ngành Trung ương, UBND tỉnh, huyện Mèo Vạc, liên quan đến Chương trình xây dựng xoá đói giảm nghèo.

Phần I
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ NHÂN LỰC

I. Đặc điểm tự nhiên:
Xã Lũng Chinh là một xã điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, cách trung tâm thị trấn Mèo Vạc 21 km về phía Tây, phía Đông giáp Sủng Trà, phía Tây giáp huyện Yên Minh, phía Nam giáp Nậm Ban, phía Bắc giáp Sủng Máng.. Mạng lưới giao thông từ trụ sở UBND xã đi các xóm còn gặp nhiều khó khăn, là xã thường xuyên thiếu nước sinh hoạt nghiêm trọng vào mùa khô. Lũng Chinh gồm 7 xóm bằng nhân khẩu gồm 6 dân tộc anh em cùng sinh sống (Mông, Dao, Cờ lao, Hoa, Tày, Kinh). Trình độ văn hoá còn thấp, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
II. Tài nguyên:
1. Đất đai: Tổng diện tích tự nhiên toàn xã là: 23,41 km2  trong đó đất Nông nghiệp 840,5 ha còn lại là đất Lâm nghiệp, đất Thổ cư, đất đồi núi trọc.
 2. Rừng: Diện tích rừng các loại, trong đó rừng nhà nước quản lý, rừng hộ gia đình quản lý 36 ha.
3. Khoáng sản (không có) 
5. Đánh giá lợi thế phát triển dựa trên tiềm năng, thế mạnh về tài nguyên của xã. Xã Lũng Chinh là một xã không có thế mạnh về tài nguyên và các tiềm năng khác; phát triển KT-XH chậm; trình độ dân trí thấp.

III. Nhân lực:
1. Số hộ: với 632 hộ;
2. Nhân khẩu: 3.477 người;
3. Lao động trong độ tuổi: 1.515  người;
4. Đánh giá thuận lợi, khó khăn về tình hình nhân lực của xã.
Nhân lực của xã đảm bảo cho việc tham gia lao động tại địa phương và đi lao động nơi nơi khác như đi xuất khẩu lao động, làm thuê, làm mướn...

IV. Đánh giá tiềm năng của xã.
Lũng Chinh là một xã có địa hình phức tạp, đường giao thông đi lại khó khăn; dân cư phân bố không đồng đều, người dân sống không tập trung; trình độ dân trí thấp; còn nhiều hủ tục lạc hậu; tỷ lệ hộ nghèo cao (62,25% hộ nghèo theo tiêu chuẩn mới)
Phần II.
THỰC TRẠNG NÔNG THÔN

A. Đánh giá thực trạng nông thôn theo Bộ Tiêu chí quốc gia về xoá đói giảm nghèo
Được phân theo từng nhóm với 19 Tiêu chí được sắp xếp thứ tự theo Bộ Tiêu chí quốc gia như sau:

I. Quy hoạch
1. Tiêu chí số 1 - Quy hoạch và phát triển theo quy hoạch
- Đánh giá tình trạng các quy hoạch đã có (quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế- xã hội và quy hoạch các khu dân cư ….), trong đó làm rõ:
(i) Những quy hoạch đã có không cần phải bổ sung.
(ii) Những quy hoạch còn thiếu cần phải xây dựng mới theo yêu cầu.
(iii) Những quy hoạch cần phải bổ sung, điều chỉnh.
- So sánh mức độ đạt được so với tiêu chí 1 của Bộ tiêu chí quốc gia NTM.

II. Về Hạ tầng kinh tế - xã hội: gồm 8 tiêu chí, từ Tiêu chí số 2 đến Tiêu chí số 9.
2. Tiêu chí số 2 - Giao thông:
- Mô tả hiện trạng và thống kê chiều dài các tuyến giao thông trên địa bàn xã bao gồm:
+ Tổng số Km đường giao thông trong xã, (gồm Quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, đường trục xã, giao thông nông thôn, đường chuyên dùng...): 58 km;
+ Số Km đường trục xã; đường trục thôn, xóm; đường ngõ, xóm và đường trục chính nội đồng: 58 km;
- Xác định số Km đường đã đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT cho từng loại đường theo nội dung sau đây:
+ Đường xã, liên xã: Tổng số 04 km, số km nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn: 4 km; đạt 6,8% so với tổng số;
+ Đường thôn, xóm: Tổng số. 54 km, số km cứng hóa đạt chuẩn: 0km; đạt 0% so với tổng số;
- Thực trạng công tác quản lý, duy tu bảo dưỡng hệ thống đường giao thông cấp xã và sự tham gia của cộng đồng dân cư; Nhân dân các xóm thường xuyên tu sửa đường liên thôn, liên xóm, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đi tu sửa đường.

3. Tiêu chí số 3 - Thủy lợi
- xã có một hồ treo với dung tích 6.000m3 tại xóm Lùng Phủa; kênh mương tại xóm Mèo Vống
- Nước sinh hoạt phụ thuộc vào nguồn nước mưa nên thường thiếu nước vào mùa khô từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau.
- Nước tưới tiêu không đáp ứng nhu cầu (duy nhất xóm Sủng Khể và Mèo Vống có nguồn nước cho một số hộ dân canh tác trồng lúa nước, rau màu).

4. Tiêu chí số 4 - Điện
- Hiện tại xã có 4/7 xóm có trạm biến áp hạ thế dẫn điện tới các hộ dân; tổng số hộ sử dụng điện là

5. Tiêu chí số 5 - Trường học
- Trường mầm non: + Phòng học: + Cấp 4: 02 phòng.
                                                  + Kiên cố: 0
           Sân chơi: không
- Trường tiểu học: Phòng học:     + Nhà tạm:
                                                  + Cấp 4:     17 phòng
                                                  + Kiên cố:  06 phòng
           Sân chơi:   300 m2
- Tường THCS:                          + Cấp 4:   04 phòng
                                                  + Kiên cố: 06 phòng
           Sân chơi:  800 m2

6. Tiêu chí số 6 - Cơ sở vật chất văn hoá
- Nhà văn hóa và khu thể thao xã; (chưa có)
- Nhà cộng đồng xóm (Sủng Lủ; Mèo Vống; Tìa Sính; Lùng Phủa; Sèo Lùng Sán; Sủng Khể) hiện trạng nhà cấp 4.
7. Tiêu chí số 7 - Chợ nông thôn
Xã Lũng Chinh chưa có chợ, nhân dân đi chợ Lũng Phìn cách trung tâm xã 4 km.
8. Tiêu chí số 8 - Bưu điện
- Xã có 01 bưu điện xã
- Chưa có điểm truy cập Internet công cộng.

9. Tiêu chí số 9 - Nhà ở dân cư
- Sắp xếp dân cư tại các xóm do người dân tự dựng nhà để ở trên phần đất được giao và chất lượng nhà ở của nhân dân thấp, phần đa là nhà tạm; 
- Nhà tạm 567/632 tỷ lệ 89,72%; Nhà dột nát 65/632 tỷ lệ 10,28%.

III. Kinh tế và tổ chức sản xuất

10. Tiêu chí số 10 - Thu nhập
- Tình hình sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã trên các lĩnh vực sản xuất trồng trọt cây lương thực chủ yếu là cây Ngô; rau đậu các loại; cây lúa tập trung 2 xóm Sủng Khể và Mèo Vống.
- Xác định thu nhập bình quân đầu người/năm của xã, thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 13, Thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT.
Khoảng 3,9 triệu đồng/người/năm

11. Tiêu chí số 11 - Hộ nghèo
- Tiêu chí chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 thực hiện theo Chỉ thị 1752/CT-TTg, ngày 21/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ, ở khu vực nông thôn, hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 400.000đồng/tháng trở xuống.
- Xác định số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo của xã tại thời điểm của năm lập Đề án là 395 hộ chiếm 62,25% toàn xã.

12. Tiêu chí số 12 - Cơ cấu lao động
- Tổng số lao động trong độ tuổi của xã và số lao động trong độ tuổi làm việc trong các lĩnh vực nông, lâm nghiệp của xã là 1.515 người
- Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp ở xã là 1.515/3.477 = 43,57%.


13. Tiêu chí số 13 - Hình thức tổ chức sản xuất
Hình thức sản xuất theo cá thể các hộ gia đình làm ăn riêng lẻ; xã chưa có hợp tác xã, chưa có làng nghề, tiểu thủ công nghiệp...

IV. Về văn hóa - xã hội - môi trường

14. Tiêu chí số 14 - Giáo dục
- Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở (đạt) năm 2007
- Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học lên trung học phổ thông, bổ túc hoặc học nghề chiếm khoảng 9%;
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo (được cấp chứng chỉ học nghề từ 3 tháng trở lên) khoảng: Khoảng 0,7%.

15. Tiêu chí số 15 - Y tế
- Trạm Y tế xã nhà 2 tầng gồm 12 phòng
- 100% tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế;

16. Tiêu chí số 16 - Văn hóa
- Kết quả các phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở xã; Các xóm tổ chức tốt phong trào "toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
- Số thôn, làng /tổng số thôn, làng của xã đạt tiêu chuẩn làng văn hóa là 3/7 xóm.
17. Tiêu chí số 17 - Môi trường
- Nhân dân hứng nước mưa để sinh hoạt, chưa có hệ thống cung cấp nước sạch; các xóm chưa có nơi đổ rác, người dân tự tiêu huy rác thải.  
- Số hộ dân có nhà vệ sinh: 181 hộ.

18. Tiêu chí số 18 - Hệ thống tổ chức chính trị xã hội
- Hiện trạng đội ngũ cán bộ xã 21 người: Đảng uỷ; UBND xã; các ban ngành
- Xã gồm 7 xóm, các xóm có trưởng phó xóm, Chi bộ xóm
- Kết quả đánh giá, phân loại Đảng bộ, chính quyền của xã trong 03 năm đây Đạt loại Khá.
- Kết quả đánh giá, phân loại các tổ chức đoàn thể chính trị của xã trong 03 năm gần đây. Đạt loại Khá.

19. Tiêu chí số 19 - An ninh, trật tự xã hội
Thực trạng về công tác giữ gìn an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn: trật tự an ninh xã hội được giữ vững; không có vụ việc lớn xảy ra.

B. Đánh giá thực trạng các chương trình, dự án đang thực hiện trên địa bàn xã.
1. Chương trình, dự án đang triển khai trên địa bàn xã bao gồm
- Chương trình 30a của Chính phủ.
- Chương trình dự án phân cấp giảm nghèo.
Đánh giá các công trình triển khai trên địa bàn: Chất lượng không đảm bảo. Chính quyền xã yêu cầu chủ thầu báo cáo nộp bản thiết kế, hồ sơ dự toán để xã giám sát nhưng nhà thầu không phối hợp nên việc giám sát không đảm bảo; trong dự toán có phần dùng cát vàng để đổ mái, giằng móng nhưng nhà thầu lấy bột đá để làm (giá bột đá chỉ 200.000đ/m3; cát vàng 800.000đ/m3).
2. Đánh giá những khó khăn, hạn chế trong việc huy động nội lực từ cơ sở để thực hiện các chương trình, dự án trên địa bàn.
Huy động nội lực bằng sức lao động của dân như san lấp mặt bằng, vận chuyển vật liệu xây dựng. Do trình độ dân trí thấp nên việc sử dụng vốn dự án hiệu quả không cao, nguồn vốn quay vòng trong dân chưa hiệu quả, thất thoát vốn do thiên tai, dịch bệnh...

C. Đánh giá chung.
Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho xoá đói, giảm nghèo; văn hoá là chìa khoá làm giàu. Ngày từ khi đất nước được độc lập Hồ Chủ tịch đã kêu gọi toàn dân diệt giặc đói, giặc dốt. Bằng những giải pháp cụ thể cấp Đảng uỷ, chính quyền địa phương quyết tâm chỉ đạo thực hiện quyết liệt công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn sẽ có chuyển biến đáng kể.
Phần III
NỘI DUNG NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN

I. Từng bước thực hiện hoàn thành 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới.
          Trước mắt Đảng uỷ, chính quyền địa phương đánh giá thực tế từng tiêu chí và đưa ra biện pháp thực hiện bằng nội lực địa phương; không nên ngồi chờ huyện, tỉnh triển khai dự án xây dựng nông thôn mới.
          Tuyên truyền nhân dân thực hiện tốt đường lối, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thực hiện tốt hương ước của xóm, hăng say lao động sản xuất, phấn đấu thoát nghèo nhanh và bền vững.

II. Giải pháp thực hiện cấp bách một số nhiệm vụ sau:
1.     Đầu tư cho giáo dục để nâng cao trình độ dân trí:
 Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho xoá đói, giảm nghèo. Do trình độ dân trí thấp nên người dân làm việc gì cũng khó khăn, không hiệu quả, không biết tính toán để phát triển kinh tế gia đình.
 Muốn nâng trình độ dân trí bền vững ta phải tuyên truyền vận động nhân dân cho con em đến trường ngay từ bậc học mầm non. Huy động học sinh đến trường đạt 98% trở lên; Duy trì các bậc học đạt 95% trở lên. Đầu tuần các trường báo cáo danh sách học sinh nghỉ học không lý do, cán bộ xã có trách nhiệm cùng Chi bộ, trưởng xóm, công an viên, thôn đội trưởng đi vận động và xử lý bố mẹ theo hương ước.
Học sinh người dân tộc hầu hết khi đến trường chưa biết tiếng phổ thông nên việc cho các cháu mầm non đi học để học tiếng phổ thông là rất cần thiết, các em tiếp thu bài giảng tốt hơn. Cần hỗ trợ kinh phí để nấu bữa ăn trưa cho các cháu (bố mẹ có trách nhiệm sáng đưa con đi học, chiều đón con về), bố mẹ có điều kiện đi làm để tăng gia sản xuất, phát triển kinh tế gia đình.
Phát động phong trào tự học tiếng phổ thông, học chữ trong từng nhà, từng xóm. Tuyên truyền trong nhân dân ai biết chữ, biết tiếng phổ thông thì dạy cho người chưa biết (trong gia đình tự học hỏi lẫn nhau); các buổi họp xóm đưa một số câu hỏi, trả lời bằng tiếng Việt, phát biểu ý kiến bằng tiếng Việt; học sinh đến trường phải giao tiếp bằng tiếng Việt. Hàng năm tổ chức thi nói tiếng phổ thông; hát bằng tiếng phổ thông; kiểm tra đọc viết (những người đạt tiêu chí biết đọc, viết, nói tiếng phổ thông được tặng thưởng 500.000VNĐ; người dạy được thưởng 200.000VNĐ/học viên).
Giao cho nhà trường áp dụng các biện pháp dạy học tích cực để truyền thụ kiến thức cho học sinh; nâng cao chất lượng dạy và học tránh tình trạng dạy học theo kiểu máy móc giáo trình, “giáo viên nói, học sinh không hiểu gì”.

2. Trồng trọt và chăn nuôi:
- Trồng trọt: Tuyên truyền và vận động nhân dân gieo trồng đúng mùa vụ, đúng kỹ thuật, áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng xuất cây trồng. Tập huấn cho khuyến nông thôn bản và nhân dân trong xóm. Đưa một số giống mới có năng xuất cao như ngô lai, đậu tương... Hướng dẫn bà con cách chăm sóc, bảo vệ cây trồng, phun thuốc trừ sâu bệnh, cắt tỉa để tránh mưa gió làm đổ cây trồng... Hướng dẫn bà con cách bảo quản nông sản và giới thiệu sản phẩm mang đi tiêu thụ đảm bảo giá cả không để tư thương ép giá...
Tuyên truyền và vận động các hộ gia đình phải làm vườn rau gia đình, trồng các loại rau địa phương để phục vụ bữa ăn hàng ngày và mang bán ở chợ, cung cấp rau cho học sinh các trường học, cán bộ, giáo viên trên địa bàn.
- Chăn nuôi: Tuyên truyền bà con làm chuồng trại thật tốt mùa hè mát, mùa đông tránh được gió lùa và thường xuyên vệ sinh chuồng trại; tiêm phòng các loại Vacxin cho gia súc, gia cầm; đảm bảo thức ăn, nước uống cho đàn gia súc, gia cầm. Liên hệ bán sản phẩm cho nhân dân. Khuyến khích các hộ gia đình liên kết mở hợp tác xã chăn nuôi.
Mỗi hộ dân phải cần phải có các con vật nuôi như bò; lợn; già; ngan (gà, ngan nuôi để lấy trứng cải thiện bữa ăn và mang chợ bán để giải quyết việc tiêu dùng).

3. Công tác Y tế - Dân số kế hoạch hoá gia đình:
Trạm y tế xã phải đảm bảo tốt công tác khám chữa bệnh cho nhân dân, tiêm phòng đủ các loại vacxin; tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, ăn ở hợp vệ sinh...
Hiện nay tỷ lệ tăng dân số tự nhiên cao, nhiều cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên đã ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống, tẻ không được chăm sóc sức khoẻ, không được học hành. Đảng ủy, chính quyền chỉ đạo quyết liệt Trạm y tế, Y tế thôn bản tuyên truyền vận động phụ nữ sinh con thứ 2 trở lên đến Trạm Y tế xã đặt vòng tránh thai. Những trường hợp vi phạm xử lý theo hương ước xóm đề ra.

4. Tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống làm giảm chất lượng dân số:
 Chính quyền, các đoàn thể xã tuyên truyền và kiên quyết xử lý vấn nạn này. Giao cho các ban ngành, đoàn thể xã, bí thư chi bộ, trưởng xóm tuyên truyền thực hiện hương ước cấm tảo hôn, phát hiện trường hợp nào tảo hôn, hôn nhân cần huyết thống báo cáo với UBND xã để xử lý theo pháp luật. Đề nghị Tòa án xử công khai tại xã để tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình. Những cặp vợ chồng khi xây dựng gia đình phải đến UBND xã để đăng ký kết hôn theo Luật định.

5. Tuyên tuyền nhân dân hạn chế nấu rượu và uống rượu:
Căn cứ vào lượng ngô thu hoạch được, người dân phải tính toán dự trữ số ngô để ăn đủ trong năm. Số lương thực thừa nên dùng vào việc chăn nuôi và trao đổi hàng hoá, không nên nấu rượu nhiều (nấu rượu vào dịp tết và khi gia đình có việc); cấn đưa vào hương ước xử phạt những ai say rượu, hạn chế nấu rượu.

6. Ma chay, cưới xin linh đình:
Mỗi đám diễn ra từ 3 đến 5 ngày có đám tổ chức uống rượu hàng tuần. Hậu quả là tốn kém, ảnh hưởng đến sức khỏe, học sinh nghỉ học để đi chơi. Cần đưa vào hương ước để quy định thời gian tổ chức không quá 2 ngày nếu vi phạm xứ lý nghiêm khắc.

7. Giải quyết việc thiếu nước sinh hoạt:
Thay vì xây hồ treo 6.000m3 cho một xã, cần xây mỗi xóm một bể nước khoảng 1.000m3 với diện tích mặt nước nhỏ (tránh bay hơi nước), hứng nước mưa từ các sườn núi. Khắc phục được người dân phải đi lấy nước xa và phục vụ cho cả việc tưới rau, đậu các loại.

8. Phát triển Thương mại, Du lịch - Giải quyết việc làm:
 Kêu gọi các nhà đầu tư vào xã để mở xưởng sản xuất, tạo điều kiện để người dân được tham gia lao động; đề nghị mở các lớp dạy nghề, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động.
Quy hoạch các địa điểm khai thác đá, vật liệu xây dựng, quản lý khai thác tăng nguồn thu nhập cho người dân trong xã. Có thu phí theo quy định.
Xây dựng mô hình sản xuất hàng hoá và chăn nuôi như nuôi gà đen, lợn đen, bò hàng hoá, ngựa bạch, nuôi ôn mật...Tuyên truyền vận động nhân dân góp vốn để mở trại chăn nuôi; buôn bán hàng hoá phục vụ người dân trong xóm...
UBND xã nghiên cứu xây dựng mô hình du lịch địa phương để giới thiệu du khách đến thăm quan, kêu gọi người dân tham gia làm du lịch... Giới thiệu với du khách gần xa qua mạng Internet.

9. Xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá – Vệ sinh môi trường.
Tuyên tuyền nhân dân đăng ký và thực hiện các tiêu chuẩn để đạt gia đình văn hoá. Các xóm phải đăng ký và thực hiện các tiêu chuẩn của làng văn hoá. hàng tháng phải đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các tiêu chí của từng nhà, từng làng. Cuối năm đánh giá các tiêu chí và cấp giấy công nhận gia đình văn hoá, làng văn hoá.
Mỗi xóm phải có địa điểm thu gom và xử lý rác thải; thường xuyên vệ sinh và tu sửa  đường liên thôn, liên xóm.
Chính quyền phải có quy hoạch tổng thể các hộ dân trên địa bàn từng xóm. Tuyên truyền nhân dân khi xây dựng nhà phải báo cáo chính quyền và xin cấp giấy phép xây dựng. Không tự ý dựng nhà khi chưa có giấy phép.

10. Về xây dựng cơ sở vật chất.
Do địa hình ở các xã vùng cao của huyện Mèo Vạc là núi đá vôi rất hiểm trở không có nhiều khu đất bằng phẳng để xây dựng cơ sở vật chất. Chính vì vậy việc quy hoạch đất để xây dựng trường học, bệnh xá, trụ sở UBND... là rất quan trọng. Để có đủ CSVC đáp ứng được nhu cầu trước mắt và sau này thì cần có sự đầu tư của Nhà nước để tận dụng không gian, giảm mất diện tích đất đai, tức là ta phải thiết kế xây nhà tầng như: trường học, bệnh xá, trụ sở UBND phải xây nhà 3 tầng.

11. Hệ thống tổ chức chính trị.
Nâng cao chất lượng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe nhân dân. đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào sản xuất; bảo vệ môi trường sinh thái, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. nâng cao năng lực hiệu quả hoạt động, quản lý giám sát điều hành của chính quyền. tiếp tục đổi mới công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị gắn với cuộc vận động “ Học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. triển khai thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp.
 UBND xã chỉ đạo duy trì tốt giao ban tuần, tháng, giao nhiệm vụ cụ thể và kiểm tra kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức theo thẩm quyền. Phân công cán bộ phụ trách xóm.
 Các đồng chí Uỷ viên BTV, Uỷ viên BCH Đảng bộ xã tăng cường xuống cơ sở kiểm tra, sinh hoạt cùng Chi bộ, đông đốc, hướng dẫn các Chi bộ làm tốt công tác phát triển Đảng. (bắt buộc phải dự sinh hoạt Chi bộ xóm phụ trách).
Thực hiện tốt quy chế làm việc của cấp uỷ, chính quyền, các ban ngành đoàn thể; mỗi cá nhân phải tự ghi nhiệm vụ của mình làm những gì; kế hoạch hàng ngày, tuần, tháng, năm; biện phải, giải pháp thực hiện tốt nhiệm vụ đó. Có đánh giá giám sát ngược.

12.  Quốc phòng – An ninh.
Công tác Quốc phòng – An ninh phải luôn được giữ vững; hàng tháng giao ban với công an viên, thôn đội trưởng các xóm nhằm đánh giá kết quả, nắm bắt tình hình trật tự ATXH trên địa bàn; đề ra phương hướng trong tháng tới. Công an viên, thôn đội trưởng phải thường xuyên bảo vệ thôn xóm báo cáo kịp thời những vụ việc xảy ra với trưởng xóm và chính quyền địa phương để kịp thờ xử lý.

III. ĐỀ XUẤT CÁC CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH ĐẶC THÙ

1. Về cơ chế:
Căn cứ tình hình thực tế của xã đề nghị các dự án công trình đầu tư giao cho xã làm chủ đầu tư. Nhằm tạo việc làm cho người dân trong xã và có trách nhiệm với chất lượng công trình mình làm, mình sử dụng.

2. Về chính sách:
kiến nghị đề xuất các chính sách đặc thù đối với xã. Cấp kinh phí làm đường liên thôn, xóm; làm bể chứa nước 1.000m3 cho các xóm trên địa bàn xã; làm trạm hạ thế để kéo điện cho các hộ dân; xây dựng trụ sở UBND xã; nhà công vụ, công trình vệ sinh, bể nước cho UBND xã.

3.     Kinh phí thực hiện đề án:
Hiện nay việc thực hiện đề án do xã phát huy nội lực bằng những việc làm cụ thể, công tác tuyên truyền để hoàn thành các chỉ tiêu; Những phần việc cần có kinh phí như xây dựng CSVC; đầu tư mô hình sản xuất; thưởng những người tự học... phải chờ nguồn đầu tư và kêu gọi các tổ chức, cá nhân có lòng hảo tâm hỗ trợ thực hiện.
         
IV. ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ ÁN     

          Đánh giá hiệu quả đạt được của Đề án theo từng giai đoạn với các nội dung sau:      1. Về kinh tế:
          - GDP theo từng giai đoạn;
          - Thu nhập bình quân đầu người theo từng giai đoạn;
          - Tỷ lệ hộ nghèo;
          - Hiệu quả hoạt động của các thành phần kinh tế:
          - Hạ tầng kinh tế xã hội:
          2. Về văn hoá – xã hội:
          Hiệu quả đạt được trên các lĩnh vực:
          + Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở:
          + Quốc phòng – An ninh:
          + Giáo dục văn hóa:
+ Y tế:
          3. Về môi trường:
          - Tỷ lệ hộ được dùng nước sạch, có nhà vệ sinh theo chuẩn.
          - Hiệu quả các hoạt động bảo vệ môi trường ở khu dân cư, cơ sở sản xuất.
                   Có bảng tổng hợp đánh giá các chỉ tiêu cụ thể hàng năm

Phần IV
TỔ CHỨC THỰC HIỆN

          Đảng uỷ, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp nêu trên, hàng tuần, hàng tháng đôn đốc các ban ngành, đoàn thể, các xóm thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu qủa. Mỗi tổ chức, cá nhân phải tự mình lên kế hoạch thực hiện nhiệm vụ của mình và đề xuất giải pháp tối ưu để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đầu tuần tổ chức giao ban đánh giá hoạt động trong tuần và triển khai nhiệm vụ, cuối tháng họp giao ban với các xóm để đánh giá kết quả trong tháng và đôn đốc thực hiện nhiệm vụ, phương hướng tháng; sơ kết 6 tháng 9 tháng, tổng kết năm để đánh giá kết quả, nhận xét, đánh giá tìm ra nguyên nhân, tồn tại, tìm biện pháp khắc phục nguyên nhân tồn tại yếu kém.
Trước tiên phải tổ chức thực hiện những phần chủ yếu sau đây:

1. Thành lập Ban Quản lý xây dựng xoá đói giảm nghèo cấp xã
Ban quản lý chương trình xây dựng xoá đói giảm nghèo của xã chịu trách nhiệm triển khai toàn bộ nội dung Đề án xây dựng xoá đói giảm nghèo cấp xã.
- Ban quản lý chương trình xây dựng xoá đói giảm nghèo do Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban;
- Có Quy chế hoạt động và tổ chức phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên. Bảo đảm mỗi một nhiệm vụ phải có cán bộ trực tiếp theo dõi, chỉ đạo.
- Quy định bộ phận thường trực của Ban chỉ đạo: bao gồm Trưởng ban, các phó trưởng ban để bảo đảm duy trì các hoạt động thường xuyên của Ban Chỉ đạo.

2. Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt nội dung Đề án xây dựng xoá đói, giảm nghèo.
Lập Kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, quán triệt nội dung Đề án đến cán bộ đảng viên, người dân trong toàn xã: kế hoạch phải thể hiện được nội dung, thời gian, đối tượng và phân công trách nhiệm thực hiện.
Hoạt động này cần được tiến hành thường xuyên, gắn liền với chế độ hội họp, sinh hoạt định kỳ ở cấp thôn, các tổ chức chính trị, đoàn thể.

3. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hàng năm.
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án, Ban quản lý tiến hành xây dựng kế hoạch, các chỉ tiêu phấn đấu hàng năm trình UBND huyện phê duyệt và tổ chức triển khai thực hiện.

4. Tiếp nhận và huy động các nguồn lực xây dựng xoá đói giảm nghèo.
- Phân công bộ phận theo dõi việc tiếp nhận và triển khai các biện pháp nhằm huy động các nguồn lực đóng góp từ bên ngoài để hỗ trợ cho Chương trình;
- Ban hành quy chế quản lý, phân bổ và sử dụng các nguồn lực hỗ trợ.

5. Tổ chức giám sát và sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện các Tiêu chí theo định kỳ hàng năm.
- Thành lập các bộ phận để giám sát các hoạt động đầu tư và kế hoạch công tác hàng năm của xã có liên quan đến chương trình xây dựng xoá đói giảm nghèo;
- Hàng năm, Ban quản lý xã tổ chức cho các Thôn đánh giá kết quả thực hiện chỉ tiêu kế hoạch hàng năm theo từng Tiêu chí và tổng hợp, đánh giá kết quả thực hiện chung trong toàn xã. Khen thưởng những hộ gia đình thoát nghèo; những hộ vì lười lao động thì không hỗ trợ coi như không thuộc hộ nghèo. Vì tâm lý người dân muốn mình nằm trong danh sách nghèo để được Nhà nước hỗ trợ. Chính vì vậy phải khuyến khích hộ dân vươn lên phấn đấu thoát nghèo.

6. Bổ sung, điều chỉnh Đề án xây dựng xoá đói giảm nghèo.
Thông qua công tác sơ kết, đánh giá kết quả thực hiện hàng năm và kiến nghị của cộng đồng dân cư, các tổ chức, Ban quản lý xã nghiên cứu, điều chỉnh sửa đổi, bổ sung mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án cho phù hợp với tình hình thực tế.

7. Phát động phong trào thi đua xây dựng xoá đói giảm nghèo.  
- Xây dựng kế hoạch tổ chức ký kết phong trào thi đua xây dựng xoá đói giảm nghèo cho từng hộ gia đình, cho các Thôn trên địa bàn xã;
- Xã tham gia ký kết thi đua xây dựng xoá đói giảm nghèo với các xã trên địa bàn huyện, thành phố.
Ngoài các nội dung trên đây, Ban quản lý xã nghiên cứu, bổ sung các giải pháp phù hợp với điều kiện của xã ./.

     Nơi nhận                                                                 NGƯỜI LẬP
- TT huyện uỷ MV,                                                                                    
- TT.UBND huyện,      thay b/cáo
- BQL cấp huyện,                     
- Đảng uỷ xã,
- UBND xã,
- BQL cấp xã,
- Các ban ngành, đoàn thể xã,    t/hiện
- 07 xóm trong xã,
- Đăng Blog: duychuonghg.blogspot.com                                      Cao Duy Chương


PHẦN KINH PHÍ CẦN HỖ TRỢ
1.     Giáo dục:
- Tổ chức tuyên truyền hướng dẫn người dân tự học tập tại 7 xóm (người dân tự học hỏi lẫn nhau; người biết chữ, biết tiếng dạy người chưa biết chữ, biết tiếng). Cuối năm tổ chức kiểm tra đánh giá:
+ Người biết chữ, biết tiếng được tặng thưởng 500.000đ/người; người dạy được thưởng 200.000VNĐ/người. (tuỳ vào từng năm có thể nâng mức thưởng). Tổng kinh phí khen thưởng mỗi năm khoảng 100 người x 700.000VNĐ = 70.000.000VNĐ.
2. Thương mại, du lịch.
- Khảo sát hang động tại 2 xóm: Lùng Phủa và Sèo Lùng Sán.
Mở đường lên hang Lùng Phủa 350 m = 350.000.000VNĐ.
Mở đường lên hang Sèo Lùng Sán 420 m = 420.000.000VNĐ
- Mô hình nuôi ngựa bạch: Tại Xóm Sủng Lủ
Tổng số 10 con x 10.000.000VNĐ = 100.000.000VNĐ
3. Khen thưởng cho những hộ thoát nghèo:
- Cuối năm đánh giá các tiêu chí từng hộ gia đình đạt mức thu nhập bình quân đầu người trên 400.000VNĐ/người/tháng sẽ có khen thưởng với mức 5.000.000VNĐ/hộ. Vì tâm lý người dân muốn mình nằm trong danh sách nghèo để được Nhà nước hỗ trợ. Chính vì vậy phải khuyến khích hộ dân vươn lên phấn đấu thoát nghèo.
- Đánh giá những gia đình chưa thoát nghèo phải công bằng nếu vì lười không phấn đấu lao động sản xuất chỉ biết ăn chơi, rượu chè thì không hỗ trợ nữa.
- Kính phí khen thưởng mỗi năm khoảng 80 hộ x 5.000.000VNĐ = 400.000.000VNĐ.
4. Y tế.
Tuyên truyền vận động nhân dân đến khám chữa bênh tại bênh xá. Khuyến khích người dân tham gia kế hoạch hoá gia đình.
          - Đặt vòng tránh thai: Hỗ trợ 500.000VNĐ/người.
          - Đình sản: Hỗ trợ 1.000.000VNĐ/người.
Mỗi năm khoảng 30.000.000VNĐ.
Mọi đóng góp xin gửi vệ UBND xã Lùng Chinh, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Quốc gia: Việt Nam.
Tài khoản tại Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp – Nông thôn Việt Nam. Chi nhánh huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. 

11 tháng 9, 2011

Số: 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

CHÍNH PHỦ
-------- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
-------------------
Số: 92/2009/NĐ-CP Hà Nội, ngày 22 tháng 10 năm 2009

NGHỊ ĐỊNH
Số: 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Cán bộ, công chức đã được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,
NGHỊ ĐỊNH:
Chương 1.
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh
Nghị định này quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn (xã, phường, thị trấn sau đây gọi chung là cấp xã); và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
Điều 2. Đối tượng áp dụng
Cán bộ, công chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã quy định tại Điều 1 Nghị định này bao gồm:
1. Cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử theo nhiệm kỳ ở cấp xã (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã);
2. Công chức cấp xã;
3. Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
Chương 2.
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ
MỤC 1. CHỨC VỤ, CHỨC DANH VÀ SỐ LƯỢNG
Điều 3. Chức vụ, chức danh
1. Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;
b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
2. Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Quân sự;
c) Văn phòng – thống kê;
d) Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã);
đ) Tài chính – kế toán;
e) Tư pháp – hộ tịch;
g) Văn hóa – xã hội.
Điều 4. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã
1. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể như sau:
a) Cấp xã loại 1: không quá 25 người;
b) Cấp xã loại 2: không quá 23 người;
b) Cấp xã loại 3: không quá 21 người;
Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.
2. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã.
MỤC 2. CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG, PHỤ CẤP
Điều 5. Xếp lương
1. Đối với cán bộ cấp xã:
a) Cán bộ cấp xã có trình độ sơ cấp hoặc chưa đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thực hiện xếp lương chức vụ theo bảng lương sau đây:
STT Chức vụ Hệ số lương
Bậc 1 Bậc 2
1 Bí thư đảng ủy 2,35 2,85
2 - Phó Bí thư đảng ủy
- Chủ tịch Hội đồng nhân dân
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân 2,15 2,65
3 - Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
- Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân
- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân 1,95 2,45
4 - Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ
- Chủ tịch Hội Nông dân
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh 1,75 2,25
b) Cán bộ cấp xã đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 204/2004/NĐ-CP);
c) Cán bộ cấp xã là người đang hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động, ngoài lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hiện hưởng, hàng tháng được hưởng 90% mức lương bậc 1 của chức danh hiện đảm nhiệm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
2. Đối với công chức cấp xã:
a) Công chức cấp xã tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước), bảng lương số 4 (Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;
b) Những người hiện đang đảm nhiệm chức danh công chức xã quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này chưa tốt nghiệp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định thì được hưởng lương bằng 1,18 so với mức lương tối thiểu;
c) Thời gian tập sự của công chức cấp xã được quy định như sau: 12 tháng đối với công chức được xếp lương ngạch chuyên viên và tương đương; 06 tháng đối với công chức được xếp lương ngạch cán sự và tương đương; 03 tháng đối với công chức được xếp lương ngạch nhân viên và tương đương. Trong thời gian tập sự được hưởng 85% bậc lương khởi điểm theo trình độ đào tạo chuyên môn được tuyển dụng. Trường hợp có học vị thạc sĩ phù hợp với yêu cầu tuyển dụng thì được hưởng 85% lương bậc 2 của ngạch chuyên viên và tương đương; công chức cấp xã ở vùng cao, biên giới, hải đảo thời gian tập sự được hưởng 100% bậc lương khởi điểm theo trình độ đào tạo. Thời gian tập sự không được tính vào thời gian để xét nâng bậc lương theo niên hạn.
3. Cán bộ, công chức cấp xã là người đang hưởng chế độ thương binh, bệnh binh các hạng mà không thuộc đối tượng đang hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động, ngoài chế độ thương binh, bệnh binh đang hưởng, được xếp lương theo quy định tại Nghị định này.
Điều 6. Nâng bậc lương
1. Cán bộ cấp xã quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định này có thời gian hưởng lương bậc 1 là 05 năm (đủ 60 tháng), hoàn thành nhiệm vụ, không bị kỷ luật thì được xếp lương lên bậc 2.
2. Cán bộ cấp xã quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định này và công chức cấp xã quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định này thực hiện chế độ nâng bậc lương theo quy định tại Điều 7 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.
3. Cán bộ, công chức cấp xã không hoàn thành nhiệm vụ hoặc bị kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo thì thời gian nâng lương bị kéo dài 06 tháng; nếu bị cách chức thì thời gian nâng lương bị kéo dài 12 tháng, kể từ ngày quyết định kỷ luật có hiệu lực.
Điều 7. Phụ cấp chức vụ lãnh đạo
Cán bộ cấp xã quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định này được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo so với mức lương tối thiểu chung như sau:
a) Bí thư đảng ủy: 0,30;
b) Phó Bí thư đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân: 0,25;
c) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân: 0,20;
d) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hội Nông dân, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh: 0,15.
Điều 8. Phụ cấp thâm niên vượt khung
Cán bộ cấp xã quy định tại điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định này và công chức cấp xã quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 Nghị định này được thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.
Điều 9. Phụ cấp theo loại xã
1. Cán bộ cấp xã quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định này được hưởng phụ cấp theo loại đơn vị hành chính cấp xã tính theo % trên mức lương hiện hưởng, cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có); cụ thể như sau:
a) Cán bộ cấp xã loại 1 hưởng mức phụ cấp 10%;
b) Cán bộ cấp xã loại 2 hưởng mức phụ cấp 5%;
2. Phụ cấp theo loại đơn vị hành chính cấp xã nêu tại khoản 1 Điều này không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
Điều 10. Phụ cấp kiêm nhiệm chức danh
1. Cán bộ, công chức cấp xã kiêm nhiệm chức danh mà giảm được 01 người trong số lượng quy định tối đa tại khoản 1 Điều 4 Nghị định này, kể từ ngày được cấp có thẩm quyền quyết định việc kiêm nhiệm thì được hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 20% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có). Trường hợp kiêm nhiệm nhiều chức danh (kể cả trường hợp Bí thư cấp ủy đồng thời là Chủ tịch Ủy ban nhân dân), cũng chỉ được hưởng một mức phụ cấp kiêm nhiệm bằng 20%.
2. Phụ cấp kiêm nhiệm chức danh không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế.
MỤC 3. MỘT SỐ CHẾ ĐỘ KHÁC
Điều 11. Chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế
1. Cán bộ cấp xã quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 5 Nghị định này; công chức cấp xã quy định tại điểm a, điểm b và điểm c khoản 2 Điều 5 Nghị định này và cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 5 Nghị định này trong thời gian đảm nhiệm chức vụ, chức danh thuộc đối tượng thẩm quyền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc theo quy định của pháp luật.
2. Trường hợp cán bộ, công chức cấp xã khi nghỉ việc đã hết tuổi lao động, có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, chưa nhận trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần, có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì được đóng tiếp theo quy định tại Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ đến khi đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội thì được hưởng lương hưu hàng tháng.
Điều 12. Chế độ đào tạo, bồi dưỡng
1. Cán bộ, công chức cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức phù hợp tiêu chuẩn chức danh hiện đang đảm nhiệm và theo quy hoạch cán bộ, công chức.
2. Cán bộ, công chức cấp xã khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, được hưởng chế độ như sau:
a) Được cấp tài liệu học tập;
b) Được hỗ trợ một phần tiền ăn trong thời gian đi học tập trung;
c) Được hỗ trợ chi phí đi lại từ cơ quan đến nơi học tập.
Chương 3.
NHỮNG NGƯỜI HOẠT ĐỘNG KHÔNG CHUYÊN TRÁCH
Điều 13. Số lượng những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã
1. Cấp xã loại 1 được bố trí tối đa không quá 22 người.
2. Cấp xã loại 2 được bố trí tối đa không quá 20 người.
3. Cấp xã loại 3 được bố trí tối đa không quá 19 người.
Điều 14. Phụ cấp và khoán kinh phí đối với những người hoạt động không chuyên trách
1. Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được hưởng chế độ phụ cấp. Mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định với mức không vượt quá hệ số 1,0 mức lương tối thiểu chung.
2. Ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương theo mức bình quân bằng 2/3 so với mức lương tối thiểu chung cho mỗi người hoạt động không chuyên trách.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quy định chức danh những người hoạt động không chuyên trách; mức phụ cấp cụ thể của từng chức danh; mức phụ cấp kiêm nhiệm chức danh; mức khoán kinh phí chi trả phụ cấp đối với những người hoạt động không chuyên trách theo loại đơn vị hành chính cấp xã, loại thôn, tổ dân phố phù hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này; quy định mức khoán kinh phí hoạt động của các đoàn thể ở cấp xã theo số lượng những người hoạt động không chuyên trách quy định tại Điều 13 Nghị định này bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế của địa phương.
Điều 15. Chế độ đào tạo, bồi dưỡng và bảo hiểm xã hội đối với những người hoạt động không chuyên trách
1. Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ hiện đang đảm nhiệm; khi được cử đi đào tạo, bồi dưỡng, được hưởng chế độ như quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định này.
2. Những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Chương 4.
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 16. Giải quyết tồn tại
1. Cán bộ xã già yếu, nghỉ việc theo Quyết định số 130/CP ngày 30 tháng 6 năm 1975 của Hội đồng Chính phủ và Quyết định số 111/HĐBT ngày 13 tháng 10 năm 1981 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) được điều chỉnh mức trợ cấp hàng tháng khi nhà nước điều chỉnh mức lương tối thiểu chung; được chuyển trợ cấp đến nơi ở mới hợp pháp; khi từ trần thì người lo mai táng được nhận tiền mai táng phí bằng 10 tháng mức lương tối thiểu chung.
Trường hợp cán bộ xã già yếu, nghỉ việc bị tạm dừng hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng trong thời gian chấp hành hình phạt tù, nay có đơn đề nghị kèm theo bản sao giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù gửi Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, giải quyết để tiếp tục hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng.
2. Cán bộ xã, phường, thị trấn có thời gian đảm nhiệm chức danh khác thuộc Ủy ban nhân dân theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 50/CP ngày 26 tháng 7 năm 1995 của Chính phủ về chế độ sinh hoạt phí đối với cán bộ xã, phường, thị trấn đã đóng bảo hiểm xã hội theo chức danh này mà chưa được hưởng trợ cấp một lần thì được tính là thời gian có đóng bảo hiểm xã hội để tính hưởng bảo hiểm xã hội.
Đối với những trường hợp giữ chức danh khác thuộc Ủy ban nhân dân nhưng chưa đóng bảo hiểm xã hội thì được truy nộp tiền đóng bảo hiểm xã hội để làm cơ sở tính hưởng bảo hiểm xã hội.
3. Cán bộ xã có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại Nghị định số 09/1998/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 1998 của Chính phủ mà chưa hưởng trợ cấp một lần, thì thời gian làm việc có đóng bảo hiểm xã hội được tính là thời gian để hưởng bảo hiểm xã hội hoặc được cộng nối với thời gian tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm xã hội bắt buộc để tính hưởng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội.
Đối với trường hợp cán bộ xã, phường, thị trấn đã được giải quyết hưởng trợ cấp hàng tháng hoặc hưởng trợ cấp một lần trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì không áp dụng quy định tại Nghị định này để giải quyết lại.
Điều 17. Nguồn kinh phí để thực hiện chế độ, chính sách
Nguồn kinh phí để thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã do ngân sách nhà nước bảo đảm theo quy định của Luật ngân sách nhà nước; cụ thể như sau:
1. Ngân sách nhà nước bảo đảm kinh phí thực hiện chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, cán bộ xã già yếu nghỉ việc theo quy định tại Nghị định này;
2. Quỹ Bảo hiểm xã hội bảo đảm kinh phí chi trả các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội cho cán bộ, công chức cấp xã.
Điều 18. Trách nhiệm thi hành
1. Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
2. Bộ Tài chính cân đối kinh phí thực hiện các chế độ, chính sách tăng thêm theo quy định tại Nghị định này và hướng dẫn, kiểm tra địa phương thực hiện.
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng dẫn, kiểm tra Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh, cấp huyện thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức cấp xã theo quy định của Nghị định này.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra quyết định giao số lượng cán bộ, công chức cấp xã theo quy định tại Điều 4 Nghị định này; hướng dẫn việc kiêm nhiệm một số chức danh để bảo đảm các lĩnh vực công tác ở địa phương đều có cán bộ, công chức đảm nhiệm; riêng chức danh công chức địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã), được bố trí 02 người để bảo đảm có công chức chuyên trách theo dõi về Nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới; chức danh Văn hóa – xã hội được bố trí 02 người để bảo đảm có công chức chuyên trách theo dõi về Lao động – Thương binh và Xã hội; bố trí, hướng dẫn, kiểm tra việc sử dụng nguồn kinh phí để thực hiện chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định này và theo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
5. Ủy ban nhân dân cấp huyện hướng dẫn, kiểm tra Ủy ban nhân dân cấp xã việc thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức; những người hoạt động không chuyên trách theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và theo quy định tại Nghị định này.
Điều 19. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thực hiện kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2010;
2. Áp dụng việc thực hiện chế độ, chính sách quy định tại Nghị định này đối với Bí thư, Phó Bí thư chi bộ (nơi chưa thành lập đảng ủy cấp xã); Thường trực đảng ủy (nơi không có Phó Bí thư chuyên trách công tác đảng).
3. Áp dụng việc thực hiện chế độ, chính sách quy định tại Nghị định này đối với những người hoạt động không chuyên trách ở thôn, làng, ấp, bản, buôn, sóc, tổ dân phố (thôn, làng, ấp, bản, buôn, sóc, tổ dân phố sau đây gọi chung là thôn, tổ dân phố). Mỗi thôn, tổ dân phố được bố trí không quá 03 người. Mức phụ cấp mỗi người không quá 1,0 hệ số mức lương tối thiểu chung.
4. Nghị định này thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn.
5. Bãi bỏ các quy định tại các Nghị định sau:
a) Điều 22 Nghị định số 184/2004/NĐ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Dân quân tự vệ;
b) Khoản 6 Điều 8 và bảng lương số 5 (Bảng lương cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;
c) Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn.
6. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các cơ quan liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./


Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- UB Giám sát tài chính QG;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Ngân hàng Chính sách Xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, KGVX (5b). TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG




Nguyễn Tấn Dũng

Bói tình duyên

Đọc truyện cười

Code: